Vào lúc bắt đầu hình thành dòng
chảy, lòng sông thường không phẳng. Những
nơi nước sông chảy qua, vì rất nhiều
nguyên nhân, nên tốc độ chảy ở hai bên trái
phải không hoàn toàn bằng nhau.
Nơi này bờ sông lở một chút, nơi
kia mất một cái cây, nơi khác nữa có thêm dòng
nước chảy từ bên ngoài vào…
Những hiện tượng đó đều
có thể làm cho tốc độ chảy của sông
ở một nơi nào đó nhanh lên hoặc chậm
đi. Đồng thời vật chất hai bên bờ
cũng khác nhau, có nơi dễ bị phá vỡ, có nơi
lại khá rắn chắc. Tất cả những cái
đó đã làm cho lòng sông trở thành uốn khúc
quanh co.
Một khi đã sinh ra khúc quanh, nó sẽ
tiếp tục phát triển. Bởi vì hướng dòng
nước là chảy thẳng vào bờ lõm, hơn
nữa nước ở tầng trên cũng từ
bờ lồi chảy vào bờ lõm, còn nước
ở tầng dưới lại từ bờ lõm
chảy ngang về phía bờ lồi làm cho bờ lõm
bị phá hoại mạnh mẽ. Trong khi đó nước
ở bờ lồi lại chảy tương đối
chậm, năng lượng yếu. Vì thế ở phía
bờ lõm, bùn cát dễ bị cuốn đi, lòng sông
tương đối sâu, bờ sông dốc, trở
thành nơi lý tưởng cho các bến cảng.
Dưới tác dụng lâu dài của nước
sông, bờ lõm do bị không ngừng phá hoại mà ngày
càng lõm, bờ lồi vì nước chảy chậm,
bùn cát không những bị cuốn đi mà ngược
lại còn tích tụ ngày càng nhiều khiến bờ
lồi ngày càng lồi thêm. Dòng sông trở nên quanh
co.
Khi đáy sông cao hơn mực nước
chảy vào sông, nước sông chủ yếu xâm
thực xuống dưới, còn khi đáy sông
thấp hơn thì nước sông chủ yếu xâm
thực vào hai bên. kết quả của sự xâm
thực là lòng sông dần rộng thêm ra, dòng sông ngày
càng uốn khúc, điểm bắt đầu và điểm
kết thúc của một khúc ngày càng gần,
thậm chí cuối cùng bị xuyên qua. Ở hai đầu
của khúc cong cũ, bùn cát tích đọng càng
nhiều, làm cho khúc cong và dòng chảy bị tách
rời, cuối cùng hình thành những chiếc hồ
hình cánh cung, hay hồ hình móng ngựa (hồ Tây là
một điển hình)

0 nhận xét:
Đăng nhận xét